Các hệ thống nhóm máu ABO được sử dụng để biểu thị sự có mặt hoặc không có mặt kháng nguyên A, B hoặc cả 2 trên bề mặt hồng cầu. Hệ thống A...
Các
hệ thống nhóm máu ABO được sử dụng để biểu thị sự có mặt hoặc không có mặt
kháng nguyên A, B hoặc cả 2 trên bề mặt hồng cầu. Hệ thống ABO có ý nghĩa quan
trọng nhất trong số 36 hệ thống phân loại nhóm máu khác nhau được công nhận, có
ý nghĩa quyết định hàng đầu trong việc truyền máu. Các kháng thể anti-A hoặc
anti-B hầu hết là IgM, được tạo ra trong những năm đầu đời bằng cách nhạy cảm với
các chất môi trường như thực phẩm, vi khuẩn và virus.
Hệ
thống nhóm máu ABO được Karl Landsteiner phát
hiện năm 1901, và phát hiện này giúp ông nhận giải Nobel vào năm 1930. Trước
đó, tất cả máu đã được giả định là như nhau, và hậu quả là các tai biến truyền
máu mà không được hiểu biết nguyên nhân.
Các
kháng nguyên nhóm máu ABO dường như cũng quan trọng trong suốt quá trình tiến
hóa bởi tần số các loại máu ABO khác nhau giữa các quần thể khác nhau, cho thấy
một nhóm máu cụ thể mang lại lợi thế lựa chọn. Ví dụ như một số nghiên cứu cho
rằng kiểu hình O có tỷ lệ loét dạ dày cao hơn, trong khi kiểu hình A có liên kết
với ung thư dạ dày. Một số nghiên cứu khác cho thấy cá thể mang nhóm máu O có ít
hơn khoảng 25% yếu tố VII (FVIII) và yếu tố von Willebrand (vWF), là một
protein liên quan đến đông máu.
Các
bệnh làm tăng nhu cầu hồng cầu đều có thể khiến bệnh nhân "mất" kháng
nguyên nhóm máu ABO, ví dụ như thalassemia. Ngoài ra, kháng nguyên nhóm máu ABO
có thể bị thay đổi bởi các bệnh ung thư huyết học có thể thay đổi các chuỗi đường
chịu kháng nguyên nhóm ABO, cho phép sử dụng kháng nguyên A và B làm dấu hiệu
khối u cho bệnh bạch cầu cấp tính, rối loạn tăng sản và myelodysplasia.
1. Nhóm A.
Nhóm
máu A là nhóm máu mà hồng cầu mang kháng nguyên (KN) A trên bề mặt hồng cầu.
Nhóm A được phân ra làm 3 nhóm: A1, A2 và A “yếu”.
+
Nhóm máu A “yếu” là nhóm máu A nhưng hồng cầu ngưng kết yếu với kháng thể
anti-A. Điều này có thể gây nhầm lẫn trong xác định nhóm máu. Nguyên nhân là do
mang lượng ít kháng nguyên A.
Trong
huyết thanh những người nhóm A yếu có thể có kháng thể chống A1.
+
A1 và A2 ứng với 2 KN A là A1 và A2
do 2 alen khác nhau quy định.
Hồng
cầu A1 bị ngưng kết mạnh với KT anti-A của người nhóm B và O, ngoài
ra cũng bị ngưng kết với chất chiết xuất từ đậu dolichos biflorus.
Hồng
cầu A2 phản ứng kém hơn với KT chống A của người nhóm B và nhóm O.
Chúng không bị ngưng kết với chất chiết xuất từ đậu dolichos biflorus nhưng lại
bị ngưng kết do kháng thể chống H.
Người
nhóm máu A2 và A2B có thể có kháng thể chống A1
tự nhiên song tỷ lệ thấp (khoảng 1% với A2 và 25% với A2B)
và hiệu giá thấp, nhưng khi nhận máu A1 có thể tạo miễn dịch và gây
tai biến nếu truyền tiếp máu A1 lần sau.
2. Nhóm B.
Nhóm
máu B là nhóm máu mà hồng cầu mang KN B trên bề mặt hồng cầu. Nhóm B được phân
ra làm 2 nhóm: B và B “yếu”.
+
Nhóm máu B “yếu” là nhóm máu B nhưng hồng cầu ngưng kết yếu với kháng thể anti-B.
Điều này có thể gây nhầm lẫn trong xác định nhóm máu. Nguyên nhân là do mang lượng
ít kháng nguyên B. Thường phát hiện được bằng phương pháp cố định và tách kháng
thể.
3. Nhóm O.
Nhóm
máu O là nhóm máu mà hồng cầu không mang KN A và B trên bề mặt hồng cầu. Tuy
nhiên, thay vào đó nhóm máu O có kháng nguyên H trên bề mặt hồng cầu.
Sự
có mặt kháng nguyên H là do hệ thống gen Hh - là hệ thống độc lập với ABO. Kháng
nguyên H là tiền thân của kháng nguyên A và B. Người nhóm O có gen H nên có
kháng nguyên H, nhưng không có gen A, gen B nên không chuyển chất H thành kháng
nguyên A, kháng nguyên B được.
Kháng
nguyên H không chỉ có mặt riêng ở nhóm O mà cả ở nhóm A, B, AB nhưng số vị trí
kháng nguyên không đều và phụ thuộc vào kiểu hình ABO, nên hệ ABO còn gọi hệ
ABH.
4. Ý nghĩa lâm sàng của kháng thể
ABO
Kháng
thể ABO có ý nghĩa lâm sàng chính vì hai lý do: chúng xuất hiện tự nhiên và được
tìm thấy phổ biến, và chúng có tính phản ứng cao.
4.1. Phản ứng truyền máu.
Nếu
người nhận máu có nhóm máu O được truyền máu không thuộc nhóm O, thì KT anti-A
và anti-B tự nhiên trong huyết thanh của người nhận sẽ liên kết với kháng
nguyên tương ứng của họ trên hồng cầu được truyền qua. Liên kết này kích thích
phản ứng hoạt hóa bổ thể, dẫn đến vỡ tế bào hồng cầu hàng loạt → gây tán huyết
mạch máu nhanh, dẫn đến các tai biến như đông máu nội mạc, sốc, suy thận cấp
tính và tử vong.
Người
ta có thể truyền máu theo hướng sau:
4.2. Bệnh tan máu của trẻ sơ sinh.
Hầu
hết các trường hợp bệnh tan huyết của trẻ sơ sinh (HDN) phát sinh do không
tương thích ABO không cần điều trị. Các trường hợp tán huyết nghiêm trọng đòi hỏi
phải truyền máu trao đổi ít phổ biến hơn và hiếm khi xảy ra.
Tan
máu của trẻ sơ sinh do kháng thể ABO xảy ra hầu như chỉ ở trẻ sơ sinh nhóm máu
A hoặc B, được sinh ra bởi mẹ mang nhóm O. Điều này là do anti-A và anti-B của
mẹ là các IgG (qua được nhau thai) chứ không phải là IgM như thông thường
(không qua được nhau thai).
Tan
máu của trẻ sơ sinh do kháng thể ABO có xu hướng tương đối nhẹ, chủ yếu là do biểu
hiện kháng nguyên trên hông cầu trên thai nhi không rõ rệt như người lớn. Tuy
nhiên, biểu hiện ABO khác nhau, và do đó mức độ tán huyết và nghiêm trọng cũng
khác nhau.
Các
nghiên cứu ban đầu cho rằng chủng tộc của trẻ sơ sinh là một yếu tố nguy cơ
phát triển tan máu của trẻ sơ sinh do kháng thể ABO. Tuy nhiên, các nghiên cứu
sau đó cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cần được điều trị không khác biệt đáng kể ở trẻ
sơ sinh châu Á, da đen, Tây Ban Nha và Da trắng.
4.3. Các chất giống kháng thể.
-
Trong tự nhiên có những protein cấu trúc đơn giản có khả năng làm ngưng kết hồng
cầu:
+
Chất chống A1 từ đậu Dolichos biflorus: làm ngưng kết rất mạnh hồng
cầu A1 và A1B, ngưng kết rất yếu hồng cầu A2
và không ngưng kết hồng cầu A2B, không phản ứng với hồng cầu B và O.
+
Chất chống H lấy từ cây Ulex europoeus, ngày nay lấy từ huyết thanh một loại lươn
nước lợ, chất này gây ngưng kết rất mạnh hồng cầu O.
Diễn đàn Y Dược Trà Vinh



